Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh - Phần II (Kỳ 9): Điền Trang Chiêu Văn Vương

Thứ bảy - 12/11/2016 15:40
(VH&ĐS) Trần Nhật Duật là con trai thứ 6 vua Trần Thái Tông. Theo quốc sử, khi mới lọt lòng mẹ, trên cánh tay Nhật Duật đã có hai chữ “Chiêu Văn” rõ như in. Bởi thế vua cha đặt tên hiệu Nhật Duật là Chiêu Văn. Năm Nhật Duật 13 tuổi, Trần Thái Tông ban tước Chiêu Văn Vương rồi phong chức phiêu kỵ tướng quân coi đạo Đà Giang.

Trần Quốc Khang về danh nghĩa là con trai đầu vua Trần Thái Tông nhưng do Hoàng hậu Thuận Thiên đã chửa trước với ông anh Trần Liễu, nên không muốn truyền ngôi báu, phong chức vọng giang phiêu kỵ đô thượng tướng quân, sai đi trấn thủ đất xa Nghệ An. Tuy vậy, Thái Tông vẫn chưa yên tâm hoàng tử Quốc Khang sẽ mãi mãi chịu an phận ở Nghệ An, nên sai Nhật Duật vào trấn trị Thanh Hóa để giám sát. Đồng thời nhà vua cũng phong luôn đất Thanh Hóa cho Nhật Duật làm điền trang thái ấp. Nhật Duật vào Thanh Hóa mang theo nhiều nô tỳ, gia nhân, quân hầu, tướng sĩ bản bộ, môn khách và dân nghèo…để quản lý công việc trấn trị, xây dựng điền trang thái ấp.

       Lệ nhà Trần thực hiện hôn nhân nội tộc, trai gái trong họ lấy nhau, nhưng không rõ tại sao Nhật Duật lại kết duyên với Bùi Thị và bà này được ban phong tới Trinh Nhất phu nhân? Các con cháu mang dòng máu hai họ Trần - Bùi, sau đều làm quan ở Thanh Hóa.
       Điền Trang thái ấp là danh từ kép, gồm hai loại hình kinh tế: Kinh tế điền trang và kinh tế thái ấp. Trần Nhật Duật chỉ được hưởng lộc ở đất Thanh Hóa, tất cả thuế má không phải nộp về triều đình, nghĩa là thái ấp Thanh Hóa không thuộc quyền sở hữu riêng Nhật Duật, vẫn là đất vua, trường hợp cần thiết vua có thể thu hồi sử dụng vào việc khác. Điền trang nằm trong thái ấp, là đất đai riêng của Nhật Duật do vua ban cấp vĩnh viễn và một phần bởi tự khai phá mà có. Điền trang của Nhật Duật là hương Ngọc Sơn vùng đất phía Tây huyện Vĩnh Xương (nay là Quảng Xương). Vùng đất phía Đông huyện trước vua Thái Tông ban thưởng cho Thượng tướng Lê Tần có công lớn phò tá nhà Trần, gọi là hương Yên Duyên.
       Như vậy, về chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, Nhật Duật được phân phong một thái ấp lớn, nhưng thực quyền sở hữu chỉ một hương nhỏ hẹp so với các vương hầu, công chúa khác, nhiều người thừa hưởng hàng vạn mẫu ruộng, gia nô mấy ngàn tên.
Trần Nhật Duật thiết lập phủ đệ tại núi Ngọc Sơn (tức núi Văn Trinh) bên dòng sông đào thời nhà Lý. Vương chọn mặt Bắc chân núi, đất đai tương đối bằng phẳng, cao ráo, bỏ hoang vu hàng trăm dặm không dấu chân người. Gia cư Chiêu Văn ở khu đất đầu sông Lý, cách bến Cảnh, nơi tiếp giáp sông Lăng, con đường thủy ra sông Mã, không xa. Mọi việc trông nom trong nhà cửa, ngoài đồng điền, ông giao cho phu nhân Bùi Thị lo liệu, để mình hoàn thành chức trách cai quản một trấn lớn. Việc quan bề bộn, nhưng Nhật Duật xử lý nhanh chóng, nên lúc nào cũng có phong thái ung dung của một phong lưu công tử. Trong nhà ông thường xuyên nuôi hơn trăm người chuyên đàn hát. Thể loại hát nhà trò (sau phát triển thành ca trù) bấy giờ rất thịnh hành. Nhật Duật sành âm luật, thích âm nhạc, sáng tác nhiều bài cho ca công đàn hát. Tương truyền điệu múa Bài bông nổi tiếng xưa nay, do ông là tác giả chính.
Điền trang Ngọc Sơn ba bề là sông Hoàng, sông Lăng bao bọc, phía đông giáp giới hương Yên Duyên. Nhà cửa người dân ở rải từng chòm xóm bên sông theo truyền thống cư trú nghìn xưa. Phu nhân Bùi Thị chiêu mộ dân nghèo lưu tán, chia cho ruộng đất, nông cụ, giống má, ở xen kẽ những chòm xóm bên sông. Họ là nông nô của điền trang.
       Phủ đệ là lỵ sở của trấn trị Thanh Hóa, hiện còn lưu truyền dấu tích nơi dinh thự Tổng trấn (Mả Đóng Pinh) công sở quan lại làm việc (Bái Đồng Quan), trại quân lính (Bái Đồng Cơ)…
       Chỗ tư dinh, nơi địa điểm xưa là Cổ Lý chi địa (đất Cổ Lý = Kẻ Lý) vì kiêng tên húy Trần Lý ông tổ họ Trần nên đổi thành Cổ Nguyễn tức Kẻ Nguyễn. Có bốn gia nhân được bà Bùi Thị cho đi khai phá khu đất gần tư dinh để cấy giống gạo ngon cung cấp cho vương phủ: Các tên Tủng (Tổng), Bìu (Bèo), Yểng (Ảnh), Chưng (Chung) mỗi người cùng một số nô tỳ (nô lệ vương phủ) khai phá một cánh đồng. Sau ba năm thành đồng cấy lúa, đất đai thuần thục, cho mang tên người cầm đầu, vì tất cả vốn là cồn hoang, bái trũng hoang vu, cây cỏ, lau sậy rậm như rừng, việc khai phá muôn vàn khó nhọc. Đến nay, 600 năm qua những địa danh ấy vẫn còn lưu truyền: Đồng Tổng, đồng Bèo, đồng Yểng, đồng Chung. Khi đất đai đã không còn hoang rậm, đồng ruộng đã trở nên thành thục, các gia nhân Tủng, Bìu,  Ảnh, Chưng được phép chiêu tập dân nghèo đến canh tác, lập nghiệp. Về sau, những ông ấy đều trở thành ông tổ của làng. Bởi kiêng tên húy ông tổ làng, các cánh đồng cũng là nơi chôn cất ông tổ phải chuyển âm trệch đi một chút: Đồng Mả Tổng, đồng Mả Bèo, đồng Mả Yểng. Riêng ông Chưng mồ mả chôn cất nơi khác, chỉ có tên đồng Chung.
       Hiện nay những cánh đồng trên đã đổi khác đến trăm phần trăm. Trước năm 1945, nếu khảo sát chúng ta có thể phát hiện thấy hình bóng quá khứ còn dư âm tỏ mờ đây đó để hình dung nỗi gian lao vất vả mồ hôi đổ lộn nước mắt mới thu được hạt thóc củ khoai. Hãy lấy đồng Bèo làm ví dụ.
       Đồng Bèo mênh mông rộng dài, trông xa tít mù tắp, đất trũng thấp, bùn lầy lội, nước ngập quanh năm, ở giữa sâu đến háng. Nó giống một cái hồ lớn, chung quanh bao bọc những cồn, bái to, nhỏ, ngắn, dài đã có tên và chưa có tên. Bái cồn lớn nhất ở phía đông, đã thành làng mạc, cư dân chủ yếu là dòng họ Lê của ông Lê Bèo, một gia nhân tin cậy của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Cư dân đồng Bèo vùng vẫy, bơi lặn trong thế giới nước là các loài tôm cá, và thủy sinh vật. Đặc biệt loài bè bè như những con thuyền nhỏ thong dong buông mái chèo, hễ há mỏ to bằng bắp chân người lớn, lũ cá ngon nhất lại chui tọt vào…
       Đội quân ông Lê Bèo, vũ khí là con dao phát to bản lưỡi mỏng sắc, trước hết phải chiến đấu với gai cỏ, lau sậy, đánh lấn từ ngoài, nơi nước cạn nhất dần tiến vào trong nước sâu. Cho đến trước năm 1945, đồng Bèo chỉ cấy được một vụ mùa.
       Năm Tân Tỵ (1281), Trần Nhật Duật cho Kẻ Nguyễn được thành lập làng Chạ, các nông nô, và gia nô có công khai hoang vỡ rậm cùng các thành phần khác, đều là thành viên mỗi kẻ gồm nhiều làng chạ, như Kẻ Nguyễn, Kẻ Vạy, Kẻ Riềng, Kẻ Sòng, Kẻ Giải, Kẻ Trường… Vương gia đã tạo điều kiện cho điền trang phát triển, làng chạ đông vui, đồng ruộng mở mang, kinh tế phồn thịnh.
       Năm 1968, xã Quảng Hòa (huyện Quảng Xương) được cấp trên hướng dẫn, giúp đỡ, đào con mương từ đồng Bèo thông nước tiêu ra sông Lý. Khỏi nạn ngập úng đồng Bèo năm/ hai vụ chiêm mùa tươi tốt, không còn tôm cá, vắng cả bóng chim cò, nhưng được nhiều gấp bội hạt thóc, hạt ngọc, hạt vàng.
Hoàng Tuấn Phổ
Nguồn: Báo Văn hóa & Đời sống

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bình luận Facbook

Website Hội Khuyến học Quảng Xương, điểm đến của niềm tin phát triển

        Công nghệ thông tin đã có mặt ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, từ quản lý nhà nước đến hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục. Công nghệ thông tin như cơm ăn, áo mặc hằng ngày của mỗi con người. Việc sử dụng Internet...

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy Website này thế nào?

Liên kết Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây